Thôn Ngọc Quan, thuộc xã Lâm Thao, tỉnh Bắc Ninh, là một vùng quê tiêu biểu của xứ Kinh Bắc, nổi bật bởi sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hiến lâu đời, cảnh quan tự nhiên đặc sắc và đời sống hiện đại đang phát triển.
Đây là miền quê văn hiến có nét đẹp phong hoà, thuỷ tụ từ xa xưa đã được coi là thắng địa của phủ Thuận An, danh hương của xứ Kinh Bắc. Nét nổi bật nhất của Ngọc Quan chính là truyền thống hiếu học và khoa bảng hiếm có. Từ thời Nho học, nơi đây đã được mệnh danh là “làng Khôi nguyên xứ Bắc”, ghi dấu nhiều nhân tài đỗ đạt cao như tiến sĩ, phó bảng, cống sĩ… cùng hệ thống bia đá tại Văn chỉ lưu danh các bậc khoa bảng qua nhiều thế kỷ. Truyền thống ấy không chỉ là quá khứ mà vẫn tiếp tục được duy trì mạnh mẽ trong hiện tại với nhiều giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ và hàng trăm cử nhân, tạo nên một nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.

Cổng làng của thôn Ngọc Quan, tỉnh Bắc Ninh
Bên cạnh đó, Ngọc Quan còn nổi bật về vị trí địa lý và cảnh quan thiên nhiên. Làng nằm ở nơi hợp lưu của ba con sông lớn là sông Bùi, sông Sen và sông Cẩm Giàng, tạo nên thế đất “tam thủy tụ”, vừa màu mỡ, vừa thuận lợi cho giao thông và sinh hoạt. Chính điều kiện tự nhiên này đã góp phần hình thành một làng quê trù phú, đồng thời mang đậm nét phong thủy đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Không chỉ vậy, Ngọc Quan còn lưu giữ hệ thống di sản văn hóa phong phú. Các công trình như đình Ngọc Quan - di tích lịch sử cấp quốc gia, Văn chỉ, chùa cổ và nhà thờ các dòng họ không chỉ có giá trị kiến trúc mà còn là nơi kết tinh đời sống tinh thần và lịch sử của cộng đồng. Đặc biệt, đình làng còn gắn với các sự kiện cách mạng quan trọng, là nơi hoạt động của các tổ chức cách mạng trong thời kỳ kháng chiến, thể hiện truyền thống yêu nước sâu sắc của người dân.

Lầu thuỷ đình giữa hồ, biểu tượng của quê hương Ngọc Quan văn hiến
Trong bối cảnh hiện đại, Ngọc Quan vẫn giữ được không gian làng quê truyền thống với cổng làng, cây đa, bến nước, ao sen, đồng thời phát triển mạnh mẽ về hạ tầng và đời sống. Hệ thống đường giao thông được bê tông hóa, nhà cửa khang trang, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao, góp phần đưa thôn trở thành điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu. Sự gắn kết cộng đồng, cùng truyền thống văn hóa – hiếu học bền vững, đã tạo nên một Ngọc Quan vừa giàu bản sắc, vừa năng động, tiêu biểu cho sự phát triển của làng quê Bắc Ninh ngày nay.
Cuốn sách "Ngọc Quan - mạch nguồn khoa bảng xứ Bắc" có cho biết thông tin của các nhân vật tiêu biểu của thôn Ngọc Quan qua các thời kỳ lịch sử:
1. Vũ Miên (1718 - 1782): Hội nguyên Tiến sĩ, Tri Lễ phiên, Tể tướng
Đóng góp:
Sử học: Chủ trì biên soạn Đại Việt sử ký tục biên (1775, 6 quyển, chép từ Vĩnh Trị đến Vĩnh Hựu) cùng Lê Quý Đôn, Nguyễn Hoàn…; và Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (1779, ghi danh người đỗ đạt từ 1075–1787).
Giáo dục: Cải cách văn trị, tu sửa Thái học, đúc chuông Bích Ung, tổ chức thi cử nghiêm minh; cho phép sĩ tử công khai tranh luận để tuyển chọn nhân tài. Cùng Lê Quý Đôn, Phan Trọng Phiên giảng dạy và khảo hạch định kỳ.
Chính trị - quân sự: Tham gia dẹp giặc Thành (Hưng Hóa), bàn kế sách dẹp Lê Duy Mật, nhiều năm điều hành Binh bộ, giữ chức Tể tướng.
Văn hóa - văn học: Sáng tác thơ chữ Hán và chữ Nôm (như Quốc âm thi, Việt thi tục biên…); tác phẩm Bắc sứ tự thuật ký (thể lục bát); dịch Tam thiên tự lịch đại văn sang Quốc âm. Ông còn mở ca viện, nuôi nghệ nhân và phát triển ca trù.
Quê hương: Hiến hơn 400 quan tiền dựng đình làng, xóa nợ cho dân; được tôn làm hậu thần khi còn sống. Công lao của ông còn lưu dấu tại đình Ngọc Quan, chùa Sen và các công trình trong làng.
2. Vũ Chiêu: đỗ Hương giải, được ban Đặc tứ tiến triều. Ông làm quan đến chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Hàn lâm viện Thị chế, Tham đồng, Đề lĩnh Tứ thành quân vụ, Sơn Nam đạo Thừa chính sứ. Ông có công trong giai đoạn cuối thời Lê – Trịnh đầy biến động; gia đình ông chu cấp quân nhu, và nhà riêng từng là nơi hành tại của vua Lê.
3. Vũ Trinh (1759 - 1828), hiệu Lan Trì ngư giả
Là thần đồng: 14 tuổi đỗ đầu xứ Kinh Bắc, 17 tuổi đỗ Giải nguyên, được bổ nhiệm Tri phủ Quốc Oai. Thi Hội đỗ Tam trường nhưng do loạn lạc cuối thời Lê nên không dự thi Đình. Danh tiếng của ông vượt trội nhiều Tiến sĩ đương thời, từng giữ chức Phó Tể tướng, Chánh sứ với nhà Thanh. Đóng góp: Ông là nhà văn hóa, nhà thơ, nhà luật học tiêu biểu thời Nguyễn. Tác phẩm gồm: Lan Trì kiến văn lục, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh (1796), Sứ Yên thi tập, “Phàm lệ soạn sử”… Ông có đóng góp lớn trong các lĩnh vực ngoại giao, giáo dục, pháp luật và truyền bá Nho – Phật. Tác giả vở chèo cổ Lưu Bình - Dương Lễ.
4. Vũ Quyền (thời Nguyễn)
Là nhà giáo dục tiêu biểu nhất triều Nguyễn, giữ chức Đốc học tỉnh Hải Dương. Ông đào tạo nhiều học trò đỗ đạt cao, có nhiều học trò làm quan lớn triều Nguyễn tiêu biểu là Nguyễn Trọng Hợp (Lại bộ Thượng thư, đại thần đầu triều).
5. Vũ Chu (1842 - 1888) - Phó bảng/Ất khoa Tiến sĩ
Ông đỗ Phó bảng thời Nguyễn ngay lúc còn trẻ, sau làm quan đến chức Bố chánh (tỉnh trưởng) Thái Nguyên. Là thông gia với Nguyễn Thiện Thuật, ông có đồn điền ở Bình Xuyên và đóng góp lớn cho Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885–1889) trong phong trào Cần Vương chống Pháp, hỗ trợ nghĩa quân về kế hoạch, lực lượng và hậu cần. Nhân dân làng Quan Đài tôn thờ Phó bảng Vũ Chu làm thành hoàng ngay khi ông còn sống.
6. Vũ Văn Ngũ - Giáo sư, nhà vi sinh học hiện đại
Giáo sư, thiếu tá, thầy thuốc ưu tú, nhà khoa học quân y đầu ngành. Trưởng khoa Vi sinh đầu tiên của Bệnh viện Bạch Mai, ông đã nghiên cứu và phát triển công nghệ lên men vi khuẩn sống từ những năm 1980, tạo ra men sống Colibacter (men sống Bạch Mai) hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột. Ông là tác giả các sách chuyên ngành như Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh vật y học, Vi sinh vật học về các bệnh truyền nhiễm quan trọng… và có đóng góp lớn cho y học Việt Nam hiện đại.
7. Vũ Minh Hiếu (Thích Trúc Thái Minh, sinh năm 1967)
Sinh tại xã Lâm Thao (thôn Ngọc Quan), là học sinh xuất sắc tại hệ chuyên Toán Lý tỉnh Hải Dương, rồi là sinh viên xuất sắc của Đại học Kinh tế Quốc dân, sau đó làm giảng viên rồi làm việc tại Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp. Sau khi xuất gia, ông trở thành trụ trì chùa Ba Vàng (Uông Bí, Quảng Ninh) từ năm 2007. Ông có nhiều đóng góp cho Phật giáo Quảng Ninh: xây dựng chùa Ba Vàng thành trung tâm tu học lớn, giảng dạy, hoằng pháp và bảo tồn văn hóa Phật giáo miền Bắc. Ông từng giữ chức Phó ban Thông tin Truyền thông Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
8. Vũ Văn Tú (sinh năm 1987) - Thủ khoa hiện đại, nghệ sĩ thị giác
Hậu duệ đời thứ 11 của Vũ Miên. Là người thông minh, Vũ Tú dành 4 năm theo học Đại học với chuyên ngành Khoa học Vật lý, là thủ khoa tốt nghiệp đại học, đạt giải nhất Olympic sinh viên và nhận nhiều học bổng. Ông tự học điêu khắc, trở thành nghệ sĩ thị giác đương đại, chuyên sáng tác trên đá nguyên khối (chậu bonsai, tượng Phật, công trình kiến trúc tôn giáo…). Nghệ sĩ thị giác Vũ Tú đã đi nhiều nơi như Non Nước (Đà Nẵng), Huế, TP.Hồ Chí Minh để nghiên cứu và sáng tác. Tác phẩm của ông thể hiện sự giao thoa giữa khoa học và nghệ thuật, mang đậm yếu tố tôn giáo và văn hóa. Ông được các tạp chí uy tín vinh danh là “tinh hoa trí tuệ đồng hành cùng Phật giáo”, “đóa sen trắng tinh khôi”, “khôi nguyên trong giới điêu khắc”, “tấm gương sáng cho các thế hệ đến mai sau”.
Các danh nhân này không chỉ làm rạng danh dòng họ Vũ Ngọc Quan mà còn có những đóng góp to lớn cho lịch sử, văn hóa, giáo dục, y học và nghệ thuật Việt Nam.
Tin và ảnh: NGUYÊN ANH
|