Chủ nhật, Ngày 20/05/2012
Trang chủ Giới thiệu Diễn đàn Liên hệ Đặt làm trang chủ  
Danh mục
  + Thủy tổ - thần tổ Vũ Hồn
  + Làng Tiến sĩ Mộ Trạch
  + Hoạt động dòng họ Vũ - Võ
  + Dòng họ Vũ - Võ Việt Nam
  + Khuyến tài - Khuyến học
  + Thơ ca - Câu đối - Danh ngôn
  + Thư viện ảnh - Video Clip
  + Hồn Việt
  -  Địa danh - Lễ hội - Làng nghề
  -  Đất và người Hải Dương
  -  Bình Giang quê ta
  -  Phong tục tập quán
  -  Văn hoá - Ẩm thực
  -  Phong thuỷ trong đời sống
  -  Thuốc dân gian - Sức khoẻ
  -  Mẹo vặt dân gian
  -  Truyện cười dân gian
Hỗ trợ trực tuyến
Vũ Xuân Kiên
Hotline: 09.345.17.666
 Bình luận
Họ tên : Võ Thị Minh Thiệp-Theo gia phả nhà mình em được biết nguồn gốc từ thờ cụ thì là họ Vũ Vì cụ nói do sợ trùng lặp nên phải đổi thành họ Võ. nguồn gốc cũ là đời con cháu của dòng họ Vũ ở Hải Dương. Em rất tự hào cũng mang dòng máu họ Võ Vũ
Vu Xuan Hong : Toi dang lam viec tai Buon Ma Thuot, rat muon lien lac voi nguoi ho vu, xin lien he qua E Mail Taohoa1210@yahoo.com.vn
Vũ Huy Thanh : mình ở hai duong, chuc tat ka mn nhju may man va thanh kôg tr0g cs nha
Họ tên : Tôi rất tự hào mình được mang dòng máu của họ Vũ. Tôi là Vũ Anh Tuấn đang công tác ngành giao thông tỉnh Yên Bái
Riz : mới ở huế zìa xong lại chẳng nói sớm để gặp tí =))
Võ Trường Sơn : Hôm nay tôi mới biết được về gia tộc dòng họ Võ, Vũ.
Vũ Anh Thuấn : tôi sinh ra tại hải phòng nhưng không biết họ vũ của minh xuất phát từ đâu đến nữa ? có ai có tài liệu về dòng họ vũ hai phòng không cho tôi một bản để tham khảo nhé ! liên hệ : 0932.255.255
Vũ Hoàng : Mong con cháu họ Vũ đời đời bền vững và phát triển! Luôn đồng lòng đoàn kết đồng tộc.
Vũ Đình Thiện : Xin chào anh Vũ Xuân Kiên. Tôi vừa mới gửi về mail của anh, về việc tôi đăng tìm Bố tôi là: VŨ ĐÌNH BÚT. Mong Anh cùng Bà Con, Cô Bác dòng họ VŨ của mình hướng dẫn cho tôi cách đăng tìm gốc tích Bố tôi với nhé.
Vũ Mạnh Cường : Mình quê Bắc Ninh nhưng đã theo gia đình định cư tại tỉnh Bình Phước từ 15 năm nay rồi,chả biết nói gì, chỉ cảm thấy rằng mình rất tự hào là vì con cháu họ vũ.... ko nói nhiều mất diễn đàn của mọi người....
vũ thùy linh : mình là con cháu Vũ Khắc ở An Mỹ Quỳnh Phụ Thái bình..mong chúc cháu con các thế hệ Vũ Gia ngày càng phát triển rạng danh dòng họ..
Vũ Đức Mạnh : Mình là họ Vũ ở Ninh Bình chúc họ Vũ ngày càng phát triển và làm rạng danh tổ tiên :">
Họ tên : mọi người hãy bình chọn cho Vũ song vũ, vũ đình chi dao trong viet nam gotalen. Đó là tài năng cuả dòng họ mình đó.hãy phát huy tinh thần hùng mạnh của dòng họ mình. Tôi tên là Võ tá Kha dt 0935.333.969
vu thanh cong 0986689084 : chau rat tu hao la con chau dong ho Vu ta.chuc tat ca moi nguoi luon may man thanh cong.Rat mong co the dc lwen voi cac teen 9x o Ha Noi.
Vu Ngoc Son : Chao dong ho Vu uy linh, chuc dong ho luon sanh ngang cung tien to.
nguyenkiu126 : Toi que o do, Chuc dong ho truong ton, phat trien
vu thanh trung : co ai biet gia toc minh co ai o gia loc hai duong khong
Vũ Thị Làn : Chào tất cả anh chị em mang họ Vũ - Võ. Mình rất tự hào về dòng họ Vũ. Chúc dòng họ mãi phồn vinh
vu nhat quangnam,dinh dien sa : chao cac ban vu vo minh doc xong that tu hao ve dong ho
võ thế vinh : good luky
Ngoc Son : Chúc dòng họ mình đời đời phồn vinh
Vũ Ngọc Linh : Nghe cha tôi kể Quê gốc nhà tôi ở hải dương,do chiến tranh,đi làm ăn nên đã di cư lên vinh phúc.rất mong tìm được nhiều ae họ hàng
dongphuongsoc_Vu : oai'. ban nay hoc goi nhi! nam nay ban du dinh vao truong dai hoc nao
Họ tên : Vũ Tùng lâm
vuphuongcuong : Chuc ca nha cuoi tuan vui ve.
vũ văn thản : to ho vu day cac ban ak!que o hung yen,tu hao dong ho minh qua di mat hahahah!!!!
Vũ Hoàng Mỹ Linh- Đà Lạt : Lòng tự tôn dòng họ đã gip1 Linh đạt học sinh giỏi quốc gia lớp 12 năm nay.Mình tự hào khi được là con cháu họ Vũ!
vo trong hieu : that vinh du
vu van tuan : xin chao nguoi nha ho vu(vo) nha minh tren ca nuoc. that tu hao khi minh la con chau dong ho vu. minh ten la vu van tuan o tp thanh hoa de giup do nguoi nha ho vu tren ca nuoc nay minh xin thong bao se tim viec lam cho con em ho vu tren ca nuoc dac biet la dia ban thanh hoa va ha noi hay gui mail cho minh theo dia chi vuvantuan1991@gmail.com minh rat han hanh dc jup do con em trong dong ho
vũ văn truy : Tôi có người bác là Vũ Văn Kính quê tổng Đông Thành, Tiền hải, Thái bình, nghe thấy bác Tích tôi bảo là bác kính lưu lạc vào nam trước năm 1945. Hiện nay bác còn không? con cháu bác ra sao? ở đâu? Báo tin cho cháu theo địa chỉ: Vũ Văn Truy, đt: 0984452566 - xin cảm ơn!
VU KY ANH : Toiho vu que h.Dailoc.Quang nam.dang sinh song va lam an o BIEN HOA DONG NAI.Chuc ban bien tap manh khoe.
vũ quang hùng : thật tự hào khi là con cháu họ vũ :)
vu truong phong : rat tu hao
vusinhhy : cho toi hoi cu vu Thieu ha tay co phai la chi ho vu tu Mo trach khong ?
vũ bá đức : tự hào
vu dang binh : Ngay 10 va 11 thang 3/2012,HDDH Vu Vo tinh Thai Nguyen da long trong to chuc cung nghing tuong than to Vu Hon{do gia dinh ong Vu Dan duc va cong duc}tu lang Mo trach len yen vi tai trung tam van hoa ho Vu Vo tinh Thai nguyen.Co gan nghin nguoi con ho Vu Vo Thai nguyen va khach moi tham gia.
Vũ Thọ Đạt : vpkien : Có ai biết ở An Hải(cũ)-Hải phòng có bao nhiêu nhà thờ họ Vũ xin nhắn giúp tới số 0996963169,xin chân thành cảm ơn! Cháu biết ở An Hải(cũ)- Hải Phòng có dòng họ Vũ ở Trung Hành là to nhất.Cao Tổ họ Vũ Trung Hành ( Phường Đằng Lâm - Quận Hải An - Hải Phòng) là Quận công Vũ Vĩnh Thái, tên thường gọi là Bản Quận Công. Theo sách Vũ Tộc phả ký" được soạn thảo ngày mồng một mùa thu niên hiệu Vĩnh Tộ đời vua Lê Thần Tông thứ sáu(1624), người sinh năm Bính Thân (1536) và mất năm Kỷ Hợi ( 1559).Làm quan dưới triều Mạc Hậu Hợp, Người giữ chức Phù Đổng Cao Trật Tự Mục Hải Dương, Hành an bang sứ đô, Tổng binh sứ triều đông, Trứ vệ sự. Hai mươi mốt thế hệ con cháu của Cao Tổ hiện đang sinh sống ở Trung Hành, Lực Hành, Lương Khê quận Hải An; Cổ Trai, Đoàn Xá huyện Kiến Thuỵ; Hoàng Pha huyện Thuỷ Nguyên; Văn Úc Huyện Tiên Lãng - TP.Hải Phòng và nhiều địa phương khác trên đất nước. Muốn biết thêm thông tin về họ Vũ Trung Hành xin vào trang web http://hovutrunghanh.vnweblogs.com
vũ tùng lâm 91 thái nguyên : cháu thuộc chi họ vũ ở thái nguyên,đến đời cháu là đời thứ 3 ở thái nguyên rồi,quê gốc là ở đông anh hà nội, có ai biết cháu thuộc chi nào của họ k thì bảo cháu với,giờ tầm tuổi như cháu đi đâu hỏi ai cũng k biết là thuộc chi nào,các cụ có thể làm như thế nào cho thế hẹ trẻ xa quê như chúng cháu hiểu hơn về dòng họ đc k?
truong tu hy : i like this passage
Họ tên : Toi ten Vu Thanh Trung, que quan thanh pho Hai Duong, tinhr Hai Duong.Hien dang lam viec va sinh song tai Da Lat. DT 0912426221, rat mong duoc lam quen voi cac thanh vien ho Vu.
Vu Van Vinh : xin dc biet dong ho vu tai thanh hoa, so dt 0985.538.878, hien nay toi song tai ha noi ma ko biet cach lien lac voi dong ho cua minh giup toi voi
Vu Van Bien : chau que o xuan truong nam djnh.xin chuc tat ca moj nguoi nam moi manh khoe,lam an phat dat
Vũ Ngọc Duy : vũ tộc nhân trí truyền gia
Vũ Đức Đại : Nhân dịp năm mới kính chúc mọi người trong gia tộc họ Vũ-Võ mạnh khỏe và hạnh phúc!Cháu thuộc gia tộc họ Vũ ở xã Diễn Vạn-Diễn Châu-Nghệ An. Hàng năm vào ngày 16 tháng giêng gia tộc họ Vũ ở Diễn Vạn đều tổ chức lễ tế!
Vũ Thọ Đạt : Họ Vũ Võ tất nhiên chỉ là một, đều là con cháu của Thủy tổ Vũ Hồn. Vũ Võ hai từ chỉ là một Bắc Nam một dải tổ không hai
Nguon goc ho Vu : Toi la nguoi ho Vu o Saigon, goc o làng Phuc Dien, xa Qung Thien, huyen Kim Son, tinh Ninh Binh. Xin hoi ho vu tai Ninh Binh co quan he dong toc voi ho Vu o Nam Dinh hay khong? Co gia pha ho Vu tren trang web hay khong? Xin cam on.
pkien : Có ai biết ở An Hải(cũ)-Hải phòng có bao nhiêu nhà thờ họ Vũ xin nhắn giúp tới số 0996963169,xin chân thành cảm ơn!
Họ tên : cac bác nào bác nào biết trả lòi dùng cháu vói: họ vũ và họ võ là hai hay là một?
Họ tên : vũ mạnh dũng: quỳnh hội quỳnh phụ thái bình SDT:0975.514.614. Hôm 7/1/2012 lần đầu tiên gia đình cháu về thăm lăng và nhà thờ tổ tại Mộ trạch. Cháu thấy rất tự hào vì mình mang dòng họ Vũ,Võ. Kính chúc dòng họ VŨ,Võ Việt Nam luôn dồi dào sức khoẻ,an khang thịnh vượng. Rất vui được tham gia các hoạt động của dòng họ tại Hà Nội.Nhờ các anh chị nhắn cho em nhé. Cám ơn anh, chị
Võ ĐÌnh Ân : Chúc dòng họ VŨ - VÕ ta luôn luôn mạnh khoẻ hạnh phúc. Và hãy luôn nhớ công ơn ông cha ta đã khai sinh và xây dựng nên dòng họ được như ngày nay. ( Võ Đình Ân - Diễn Lộc , Diễn CHâu, Nghệ AN )
Võ Đình Ngự: Hải Phòng : Toàn thể đại gia đình dòng họ Vũ- Võ luôn là niềm tự hào mãi mãi trường tồn.SĐT: 0915039898
Vũ Hồng Nhung : chau rát tự hào vì mình là người của dong họ vũ hi vọng rằng một ngày không xa sẽ được về thăm đất tổ của họ Vũ. Vũ Hồng Nhung dt 01276656419
Vũ Thị Thùy Dung : Cháu là con cháu của dòng họ Vũ (gốc ở Trực Tuấn - Trực Ninh - Nam ĐỊnh). Vì từ đời Ông Nội cháu đã tản cư lên Gia Lâm - Hà Nội (nay ở Phú Thọ) đã lâu, nên còn biết rất ít thông tin về anh em, họ hàng. Nay Bố cháu cùng gia đình tha thiết muốn tìm lại thông tin về Ông Vũ Văn Mạnh (Con Cụ Vũ Văn Dạn). Nay ai biết thông tin gì rất mong được sự giúp đỡ của tất cả con cháu dòng họ Vũ Võ. cháu xin cảm ơn! SĐT liên hệ:Vũ Đình Hướng 0977 882 532 hoặc cháu Dung 0979 773 486
VU VAN KHA : toi la nguoi ho vu tai tphcm ,toi mong muon ho vu co ban lien lac tai tphcm ,0974616456
Vũ Thanh Long : Cháu muốn tìm bác Vũ Đình Dạn cùng dòng họ quê ở Nam Trực Nam Định Ai biết thông tin xin liên hệ qua số ĐT:0983648324 Xin cảm ơn!
Họ tên : Vũ Trung Kiên. Tôi là Vũ Trung Kiên, hiện công tác tại Sở Xây dựng Đồng Nai. Tôi luôn tự hào mình là con cháu của một dòng họ khoa bảng, văn hóa lâu đời.
Võ tá kha Can lộc_hà tĩnh. : Tại sao không đưa tin vui cụ tổ Võ Tá Sắt được nhà nước truy phong và công nhận di tích VH tại Tp Hà Tĩnh để mọi ngừơi đọc và tự hào về tổ tiên. Tôi Võ Tá Kha dt 0935333969
Vũ Đức Nhân: : Xin chúc toàn thể họ vũ năm mới sức khỏe và may mắn.
Vu Thanh Doan : Xin chao Ho vu tren toan the gioi minh o Nam Sach noi co Mo thuy to ho vu nhung. nhung den nay muon tim hieu chi ho vu cua minh tai xa dong lac - huyen Nam Sach chi biet toi 7 doi tu minh tro len va biet cu to o day la Vu Dinh Nhieu co ai biet goc gac cua cu o dau chi giup nhe. Mong muon duoc giao luu voi nhung nguoi Ho Vu(Vo).0904255885
vũ đức hưng : họ vũ đức tại thái thượng - thái thuy thái bình. tôi muốn tìn hiểm về nguồn gốc ai có thông tin xin báo giúp tôi
  Bình luận của bạn
(*) Mã:  aegv48
Quảng cáo
THỐNG KÊ
Khách online: 31
Số lượt truy cập: 13030434
   Trang chủ > Hồn Việt > Phong tục tập quán >
  112 điều nên biết về phong tục Việt Nam (phần 3): Giao thiệp 112 điều nên biết về phong tục Việt Nam (phần 3): Giao thiệp , Làng Mộ Trạch - Họ Vũ Võ Viêt Nam
 
112 điều nên biết về phong tục Việt Nam (phần 3): Giao thiệp

30. Xưng hô như thế nào cho đúng?

31. Vợ chồng xưng hô với nhau như thế nào?

32. Cách xưng hô trong họ

33. Phải chăng “Lời chào cao hơn mâm cỗ”?

34. “Nhập gia vấn huý” nghĩa là gì?

35. Ai vái lạy ai?

36. Đạo thầy trò

37. “Miếng trầu là đầu câu chuyện?

38. Xuất xứ của tục nhuộm răng và cách nhuộm?

39. Tại sao gọi là “Tóc thề?”

40. Màu sắc với truyền thống văn hoá dân tộc

41. Vì sao có tục bán mở hàng
Bán mở hàng thế nào cho đắt khách?

---------------------------------------------------

30. Xưng hô thế nào cho đúng?

 

    Vấn đề này thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, giáo dục học, nhưng dính dáng nhiều đến phong tục cổ truyền. Mới nghe tưởng đơn giản quá, đứa bé lên ba cũng biết. Quả vậy, trẻ con vừa học nói đã được cha mẹ, anh chị bày cho cách xưng hô, thế nhưng đến lớn đến già vẫn còn sai sót. Nhiều khi chỉ vì một sai sót nhỏ trong các xưng hô mà gây nên thành kiến nặng nề.     Đối với các nước khác châu á, đại từ nhân xưng có 3 ngôi: Người nói, người nghe và người, vật, sự việc được đề cập đến trong câu nói. Chỉ có sáu từ cơ bản nếu dịch mộc mạc ra tiếng Việt là: tao, mày, nó, chúng nó, chúng tao, chúng mày.

    Ví dụ: “Bố mẹ cháu bảo cháu đưa ba cháu sang thăm hai cụ”. Câu này nếu dịch từ đối ra tiếng nước ngoài thì như sau: “Chúng nó bảo tao đưa nó sang gặp chúng mày”.
    ở Việt Nam ta đã quen từ nhỏ, đáng tuổi ông thì gọi là ông, đáng tuổi bác thì gọi là bác không đươc “mày tao chí tớ”, “cá mè một lứa”. Chúng ta nên thông cảm với người nước ngoài học tiếng Việt. Đại từ nhân xưng tiếng Việt rất đa dạng phong phú nhưng cũng rất phúc tạp, điều khó khăn phức tạp nhất là, ngay trong đại từ nhân xưng của ta đã mang sắc thái tình cảm, thể hiện sự yêu thương tức giận, kính trọng, khinh ghét, khách sáo, thân mật…     Trong cách xưng hô của ta có phân biệt tôn ti trật tự rõ ràng. Cháu bé hỏi rằng: Tại sao ông bảo cháu thưa bẩm, thế mà cháu gọi ông ông lại không thưa bẩm cháu. Cháu cũng không hiểu sao cha mẹ gọi con thì gọi thằng Giáp con ất được còn con gọi tên cha mẹ thì không được. Tại sao ông chú già rồi lại còn gọi là “ông trẻ”.

    Cách dùng từ để xưng hô  của ta còn tuỳ thuộc vào mức độ thân sơ giữa người nói và người nghe. Ví dụ, thật thân tình bạn bè gọi nhau bằng mày tao, hắn thì quí; gọi nhau bằng thưa quí anh hoặc bằng ông thì coi như giễu cợt kích bác nhau. Ngược lại, mới quen biết sơ sơ mà mày tao thì coi như bất lịch sự, đôi khi nghe bực mình bỏ đi không thèm trả lời. Cụ già và Lão già đồng nghĩa nhưng khi nói “Tôi hỏi cụ già” thì rất khác “Tôi hỏi lão già”. Cũng có trường hợp “lão” chưa hẳn đã già, mà là cách gọi thân mật.

    Nếu có quan hệ họ nội, họ ngoại thì gọi theo quan hệ thân thuộc gắn bó tình thân thiết hơn; mặc dầu ít tuổi hơn mình nhưng ngang hàng cha mẹ mình thì gọi bằng chú, bác, cô, dì theo đúng vai vế trong họ. Ngược lại, đối với người đã lớn tuổi mặc dầu là bậc cháu nhưng để cho khỏi “chướng” nên gọi bằng anh, ông, bác ông… Coi như gọi thay con, cháu mình, như vậy thanh nhã và lịch sự hơn.

    Thuần tuý quan hệ xã hội, không có quan hệ họ hàng nhưng theo phép xã giao “trưởng nhất tuế vi huynh, trưởng thập tuế vi phụ” (hơn một tuổi làm anh, hơn mười tuổi làm cha), tức là tôn lên ngang bằng với cha mà gọi chú, bác. Đây là phép tôn xưng.

31. Vợ chồng xưng hô với nhau thế nào?

    Người Việt Nam ta từ nhỏ đến lớn, đến già nói chuyện với nhau đã quen tai nhưng nếu diễn giải cho người nước ngoài biểu đạt được đầy đủ sắc thái ngôn ngữ kể thật lý thú . Ví dụ: “Nhà tôi” dịch ra tiếng Pháp là “Ma maison” thì người Pháp làm sao hiểu nổi.     Thời nay vợ chổng trẻ xưng hô với nhau “anh anh em em” âu yếm thân thiết biết bao! Dẫu chồng ít hơn dăm ba tuổi vẫn là anh. Lùi lại bốn mươi năm trước, những gia đình ít nhiều được Âu hoá, vợ chồng gọi nhau bằng “mình” cũng thể hiện được tình cảm đậm đà, gọi nhau bằng “cậu, mợ” cũng thanh nhã, nhưng những từ đó còn xa lạ với nông thôn, một số tân tiến muốn gọi nhưng vẫn còn ngượng ngùng với hàng xóm, chỉ thầm kín tỏ tình với nhau trong buồng, thỏ thẻ chỉ đủ hai người nghe với nhau. Cách gọi nhau bằng tên “trống không”cũng là một bước cải tiến lớn, chứ các cụ ngày xưa, thời trẻ chỉ gọi nhau bằng “bố thằng cu”, “u nó”, “mẹ hĩm”… Người mới lấy nhau chưa có con, chồng chẳng có chức vị gì mà gọi thì làm sao? Bí quá, có cô mới về làm dâu, muốn gọi chồng đang  chơi bên nhà hàng xóm về, chẳng biết xưng hô ra sao bèn ra ngõ gọi thật to “ai ơi! Về nhà ăn cơm”. Từ “ai” ở đây không phải là đại từ nghi vấn, hay đại từ phiếm chỉ mà có nghĩa là “chồng tôi ơi”.

    Còn khi nói chuyện với người khác thì giới thiệu vợ mình hay chồng mình là “nhà tôi”. Từ “nhà tôi” thật là đậm đà gắn bó, “mình ” và “tôi” tuy hai nhưng một. “Nhà tôi” tức là “chồng tôi” hay “vợ tôi” chứ không thể nói “vợ anh”, “chồng nó” là “nhà anh nhà nó”.

    Vợ chồng nói chuyện với nhau thường hay nói trống không “Này! Ra tôi bảo!” hoặc “nào ai bảo mình”…

32. Cách xưng hô trong họ

Có xem sơ đồ gia phả toàn họ mới biết được: Mình thuộc đời thứ mấy, đời trên mình là những ai, mình thuộc chi nào, nhánh nào, bằng vai với mình trong họ là những ai? Có sơ đồ gia phải mới phân biệt được thế thứ trong họ mỗi người tự xác định được quan hệ trong nội tộc mà xưng hô cho đúng, chú ra chú, bác ra bác, anh ra anh, em ra em v.v…. Xưng hô trong nội tộc khác với xưng hô ngoài xã hội, để khỏi mang tiếng “Cá mè một lứa”. Ngoài xã hội dựa theo tuổi tác và chức vụ địa vị, trong gia tộc dựa theo thế thứ, nhưng khi giao thiệp với từng cá nhân cụ thể lại phải kết hợp theo cách xưng hô ngoài xã hội theo quan hệ tuổi tác. Có thể đúng theo huyết thống thì anh A phải gọi tôi bằng ông chú, nhưng tôi cũng gọi anh A bằng bác, vì anh A đã là người tuổi cao, gọi bằng cháu bất tiện và bất lịch sự. Tôi gọi anh A bằng bác đó là gọi thay cho cháu chắt tôi, mặc dầu tôi ít tuổi hơn anh nhưng về thế thứ ngang với ông nội anh A. Tuy nhiên nếu ít tuổi quá mà gọi bằng ông cũng bất tiện, có khi phải hạ xuống một bậc mà gọi bằng chú mới thân mật.

Trong khi chúng tôi biên soạn gia phả có người bà con trong họ thắc mắc: Gia phả có nhầm lẫn gì giữa các chi trong họ ta hay không? Tại sao anh X. Còn ít tuổi hơn cháu nội tôi, mà tôi lại phải gọi anh X. bằng ông.

Xin trả lời: đó là hiện tượng phổ biến không có gì đặc biệt. Ngay trong một gia đình anh cả đã có con, mà chú út chưa ra đời: hiện tượng “Em bú chị dâu, cháu bú bà” là chuyện bình thường trong xã hội cũ, chỉ mới qua hai đời đã có sự chênh lệch 1 đời, vậy thì trong họ hàng qua nhiều đời, chênh lệch dăm ba đời không có gì là lạ.

ở nông thôn còn mối quan hệ giây mơ rễ má chằng chịt qua giữa thông gia, giữa bà con nội ngoại, nên cách xưng hô lại càng phức tạp, thông thường thì vợ chồng thống nhất cách xưng hô với ông chú bà bác bên nội bên ngoại như nhau, nhưng cũng có trường hợp do quan hệ huyết thống thân sơ khác nhau chồng gọi bằng em, vợ gọi bằng bác hay ngược lại. Nhưng dầu sao “Máu thoảng còn hơn nước lã”, gọi nhau theo quan hệ gia tộc vẫn thân mật hơn gọi theo quan hệ xã hội.

33. Phải chăng ” lời chào cao hơn mâm cỗ “?

    Trong tiếng Việt từ “chào” thường đi đôi với từ “hỏi” và từ “mời”, cách chào hỏi, chào mời, chào thưa ở mỗi địa phương có một phong tục khác, lại còn lệ thuộc vào đối tượng được chào và phong cách người chào.     Đối với các cụ già, khúm núm kính cẩn đứng lại “bẩm cụ ạ” thì cụ có cảm tình ngay nhưng đối với người lớp trung niên tân tiến mà làm như vậy thì người ta tưởng chế giễu “Đi qua nghiêng nón không chào” không phải vì ghét nhau hờ hững với nhau mà vì quá yêu nhau bằng lời nói mà còn bằng khoé mắt nụ cười, có trường hợp mắt nói rõ hơn miệng.

    Chào hỏi đi đôi với nhau, hỏi để chào: “ông khoẻ không?” “ông đi đâu đấy?” Nhiều khi hỏi bâng quơ, hỏi không cần trả lời, nhưng nếu không chào hỏi thì ra điều lạnh nhạt khinh người.

    Chào mời đi đôi với nhau: Cần phân biệt mời thực sự hay mời để thay lời chào. Nực cười! Hành khách trên hai chiếc thuyền đi dọc sông, ngược chiều nhau cũng mời nhau ăn cơm lời mời thuần tuý thay lời chào chứ có ai nhảy sang thuyền kia mà ăn đâu! lời chào có thức sự cao hơn mâm cỗ không. Có khi  không có mâm cỗ, chỉ chào xuông, e không ổn, nhưng quả thực, mâm cao cỗ đầy mà lời chào nhạt nhẽo, khinh khi, kiêu kỳ thì mâm cỗ cũng bỏ đi.

    Lời chào biểu hiện phong cách con người, biểu hiện nề nếp của gia đình, thuần phong mỹ tục của điạ phương và của cả dân tộc ta. Song, ở mỗi nơi một khác, mỗi thời một khác. Ngày xưa chào bằng cách vái lạy; ngày nay chào bằng cách bắt tay. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong câu hỏi “Ai vái lạy ai”.

34. Nhập gia vấn húy là gì ?

    Theo phép xã giao, trước khi đến thăm một gia đình cần tìm hiểu tên Huý của ông bà cha mẹ và bản thân tên người mình định đến thăm, để tránh trong khi nói chuyện hoặc xướng hoạ thơ từ động đến tên huý gia tiên người ta “Huý” đồng nghĩa với “kỵ” (tức là kiêng kỵ). Ngày giỗ tức là huý nhật hay kỵ nhật. Tên huý là tên chính nhưng lại là tên kiêng nói đến, khi giận nhau người ta đè tên huý ra mà chửi. Ông bà, cha mẹ, chú bác có thể gọi con cháu bằng thằng nọ con kia theo tên huý, kể cả những người cao tuổi trong làng xóm. Trong ngôn ngữ  thông thường có trùng âm cũng phải nói tránh đi, nếu không sẽ bị coi là hỗn.     Thời nay, giao thiệp rộng rãi, trong quan hệ bạn bề đồng chí gọi tên nhau là chuyện bình thường. Song về các vùng nông thôn phải tuỳ theo phong tục từng vùng mà xưng hô, nếu cứ theo họ tên ghi trong địa chỉ thư tín và giấy tờ hành chính mà gọi thì chưa chắc hẳn các vị cao tuổi đã vui lòng. Trừ những người đã thoát ly, công tác, còn thông thường người ta vẫn hay gọi nhau bằng tên con trưởng hoặc tên cháu đích tôn.

    ở miền nam nước ta hay gọi tên theo thứ tự sinh ra trong gia đình, nếu đã ra ngoài xã hội thì thường gắn tên huý. Ví dị : Ông Bảy Lửa, chị Ba Tịch …

35. Ai vái lạy ai?

    Vái lạy là phép xã giao thời xưa, không chỉ dùng khi cúng tế mà người sống cũng lạy nhau…”Đời xưa vua đối với bày tôi, bố vợ đối với chàng rể, người tôn trưởng với kẻ ti ấu đều phải lạy đáp lễ… Đến đời nhà Tần mới đặt ra lễ “tôn quân ti thần”, nên thiên tử không đáp lạy bày tôi nữa… Ngaỳ xưa từ quan khanh sĩ trở xuống đều theo cổ lễ mà đáp lễ kẻ ti ấu, nếu kẻ ti ấu (bề dưới) chối từ, mới dùng lễ túc bái đáp lại. Còn vái là nghi thức lúc đã lễ xong….Nước ta xưa kia có chốn công đường có lễ tông kiến, kẻ hạ quan cũng vái bậc trưởng quan… Gần đây những kẻ hiếu sự không biết  xét đến cổ điênr lại cho là lễ của tôn trưởng đối với kẻ ti ấu, còn kẻ ti ấu đối với tôn trưởng không được vái, chỉ lạy xong là cứ đứng thẳng và lùi ra…”(Trích Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ trang 174).     Xem đoạn văn trích dẫn trên ta thấy vái lạy là một phép xã giao, không chỉ vái lạy người trên mà người trên cũng vái lạy đáp lễ. Từ lạy nhau chuyền sang vái nhau trong buổi tương kiến, đến nay ta tiếp thu văn hoá Âu Tây vẫn giữ được phép tôn ti (tôn trưởng ti ấu).

    Theo phong tục lễ giáo của ta, bề dưới phải chủ động chào bề trên trước, trẻ chào già trước, trò chào thầy trước . Nếu bề trên không chào lại người dưới, thầy không chào lại trò, tức là không đáp lễ, thì cũng bất lịch sự chẳng khác gì từ chối người khác, làm cho người đưa tay trước ngượng ngùng và bất bình. Không biết vái, chào lại người khác là đã tự làm mất đi phong cách lịch duyệt của chính mình.

    Chúng tôi xin trích kể lại câu chuyện “Tam nguyên Tổng đốc lạy ông Nhiêu”.
Ông Nhiêu Chuồi người cùng làm ăn mừng lên thọ 80 Cụ Tam Nguyên cũng tới mừng. Khi làm lễ chúc thọ, cụ Tam cũng như mọi người lễ ông Nhiêu hai lễ rất kính cẩn. “Ai đời cụ Tam Nguyên Tổng Đốc lại lạy một người dân thường. Ông Nhiêu vội vàng sụp xuống lạy tạ. Cụ Tam đỡ ông Nhiêu dậy, ôn tồn nói: Ta lễ là lễ cái thiên tước của ông Nhiêu đấy…”
(Trích Nguyễn khuyến và giai thoại _ Bùi. V. Cường biên soạn_Hội VHNT Hà Nam Ninh xuất bản- tr 123)

36. Đạo thầy trò

 

    Quan hệ thầy trò nói riêng về mặt phong tục cũng cần có một tập sách rêng. Để trả lời cho những câu hỏi về đạo thầy trò, chúng tôi thiết nghĩ mấy dòng sơ lược thì chưa thể nào nói cho hết được.     Dân tộc ta vốn tôn sư trọng đạo, dưới chính thể nào cũng vậy. Vai trò thầy giáo luôn luôn tiêu biểu cho tầng lớp trí thức, tiên tiến được toàn thể xã hội công nhận. Nghề giáo vốn là nghề cao quí nhất. Nền giáo dục thời phong kiến cũng như thời dân chủ đều thống nhất một phương châm “tiên học lễ hậu học văn” “nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”… Nhân tài phục vụ xã hội, điều hành bộ máy Nhà nước đều được “ông thầy”, tức là khuôn mẫu, đào tạo nên, “không thầy đố mày làm nên”. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đều thống nhất dựa vào chế độ thi cử, có học vị, cấp bậc rõ ràng.

    Vì tất cả những lẽ trên, có người đặt vấn đề: Vậy đặt thầy cao hơn cha có quá đáng không?

    Cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng mình, thầy giáo là người truyền thụ kiến thức cho mình. Sở dĩ hiển đạt, thi thô được tài năng với đời đều nhờ thầy. Ngày xưa, từ nhỏ đến khi đi thi đậu cử nhân, tiên sĩ thường cũng chỉ học một thầy cùng lắm là vài ba thầy, chứ không như ngày nay mỗi năm một lớp rồi mỗi môn một thầy. Ngày xưa có nhiều trường hợp thầy trò cùng lều chóng đi thi nhưng học tài thi phận , trò đậu thầy hỏng. Có những ông thầy đào tạo được nhiều ông Nghè, ông Cống nhưng bản thân ông thầỳ lại chẳng đậu đạt gì, chẳng nhận quan tước gì, có người thi đậu cũng không ra làm quan mà chỉ tiếp tục dạy học. Có những thầy giáo đạo cao đức trọng được môn sinh nể trọng hơn cha. Thầy Chu Văn An là người thầy tiêu biểu nhất được liệt thờ ở Văn Miếu.

    Ngày xưa, thầy đồ dạy đỗ được một số học sinh đậu đạt cử nhân, tiến sĩ thì tự nhiên vai vế trong xã hội được nâng lên rõ rệt, quan tỉnh quan huyện cũng phải kính nể, chẳng những đối với thầy giáo mà cả gia đình thầy. Quang Trung ba lần mời Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) ra làm quân sư, chính là để thu phục nhân sĩ Bắc Hà, vì Nguyễn Thiếp là thầy giáo của nhiều triều thần Lê Trịnh đương thời.

    Ngành giáo dục tuy có chế độ thi hương, thi hội, thi đình rất nghiêm rất chặt, song rất ít giáo chức rất ít trường công, ở cấp huyện , cấp phủ chỉ có một vài huấn đạo giáo thụ ăn lương nhà nước, hầu hết là các lớp tư thục. Một nhà khá giả trong vùng nuôi thầy cho con ăn học , xóm làng chung quanh gửi ôn đến thụ giáo không phải nộp học phí, chỉ đến ngày mồng 5 tháng 5 ngày Tết… cha mẹ học trò mới đưa lễ tết đến tết thầy tuỳ tâm. Giàu có thì thúng gạo nếp, bộ quần áo…Nghèo thì một cơi trầu một be rượu cũng xong.

    Môn sinh của một thầy thường tổ chức nhau lại gọi là Hội đồng môn, có trưởng tràng, giám tràng và một số cán tràng giúp việc trưởng tràng. Con thầy mặc dầu ít tuổi hơn cũng được gọi là thế huynh. Thầy nào có tiếng dạy giỏi, dạy nghiêm thì được nhiều sĩ tử đến theo học , Hội đồng môn vận động các gia đình môn sinh đóng góp tiền của tạo ruộng, tạo trâu bò rồi phân công cày cấy, đến mùa màng gặt tự gánh về gia đình nhà thầy để gia đình thầy chi dụng. Khi thầy mất lại dùng rụông đó lo tang ma cho thầy, cho vợ thầy và giỗ tết tế tự về sau.

    Học trò để tang thầy cũng ba năm như tang cha mẹ, nhưng không mặc tang phục, gọi là tâm tang tức là để tang trong lòng.

Cụ Thượng Niên về lễ tang vợ thầy:

    Nguyễn Khắc Niên (1889-1954) người Sơn Hoà, Hương Sơn, Hà Tĩnh đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng Giáp) khoa Đinh Mùi 1907 làm Thượng thư bộ Cải lương hương chính triều  Bảo Đại. Nguyễn Khắc Niên là học trò cụ Nguyễn Duy Dư người Sơn Tiến, một người nổi tiếng hay chữ ở huyện  Hương Sơn, đã được hội Tư văn hàng huyện tôn xưng là “Hương Sơn tứ hổ”. Nguyễn Khăc Niên thụ giáo cụ Dư ở cách nhà mình trên 4 km. Đến kỳ thi Hương hai thầy trò cùng lều chõng đi thi, học trò đậu cử nhân, được vào Huế thi Hội đậu luôn Hoàng giáp, thầy chỉ đậu Tú tài. Theo chế độ thi cử thời trước: Cử nhân mới được dự thi Hội, còn  Tú tài thì phải 3 khoa Tú tài mới được thi. Ba năm mới có một khoa, thầy Tú chưa kịp chờ để thi lại khoa sau thì đã từ trần- 1909. Hơn 30 năm sau, bà Tú Dư mất, lúc đó Nguyễn Khăc Niên đã lên đến chức Thượng thu trong triều. Nghe tin vợ thầy học cũ mất, ông đánh xe từ Huế về Hà Tĩnh để phúng viếng. Nhà cách sông và đường quốc lộ, Tri huyện tiếp điện đã lệnh cho Tổng lý địa phương đem kiệu và võng lọng ra tận bờ sông đón rước cụ thượng về quê lễ vợ thầy. Nhà ông bà Tú trên đỉnh đồi Sơn Trại, người trai tráng leo lên cũng cảm thấy mệt, hơn nữa sỏi đá lởm chởm. Nhưng để tỏ lòng cung kính nhớ ơn thầy, cụ thương Niên đã xuống cáng, đi chân đất có hai người lính hầu dìu hai bên, lên tận nhà thầy gần đỉnh đồi . Tất nhiên cụ Thượng thư đã đi chân đất thì từ tuần phủ tri huyện đến tổng lý cũng phải tháo hia hài cắp nách mà leo lên. Người con trưởng cụ Tú và một số gia nân khăn áo chỉnh tề đã xếp hàng đứng ở cổng. Mặc dầu chỉ là dân thường ít hơn một vài tuổi, nhưng con trai cụ Tú cũng được Cụ Thượng Niên vái chào rất cung kính (vì được coi là thế huynh).     Học trò cũ mà thầy lại mất từ lâu, nay về lễ tang vợ thầy, đây là chuyện thực mắt thấy tai nghe, kể lại dẫu có lỗi thời, nhưng cũng hy vọng các bạn đọc chắt lọc được trong phong tục xưa chút hương vị ngọt ngào chăng ?

37. Miếng trầu là đầu câu chuyện

    Theo phong tục Việt Nam, miếng trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không ăn trầu cách mặt nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp:

Tiện đây ăn một miếng trầu
Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là

      “Đầu trò tiếp khách” là trầu, ngày xưa ai mà chẳng có, hoạ chăng riêng Tú Xương mới “Bác đến chơi nhà ta với ta”     Quí nhau mời trầu, ghét nhau theo phép lịch sự cũng mời nhau ăn trầu nhưng “cau sáu ra thành mười”.

    Đặc biệt “trầu là đầu câu chuyện” giao duyên giữa đôi trai gái:
“Lân la điếu thuốc miếng trầu, đường ăn ở dễ chiều lòng bạn lứa”.

- Trầu vàng nhá lẫn trầu xanh
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.

Mời trầu không ăn thì trách móc nhau:

- Đi đâu cho đổ mồ hôi
Chiếu trải không ngồi trầu để không ăn.
- Thưa rằng bác mẹ tôi răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

    Khi đã quen hơi bén tiếng, trai gái cũng mượn miếng trầu để tỏ tình, nhất là các chàng trai nhờ miếng trầu mà tán tỉnh:

- Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu.
- Một thương, hai nhớ, ba sầu
Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.

    “Có trầu, có vỏ, không vôi” thì môi không thể nào đỏ được, chẳng khác gì “có chăn, có chiếu không người năm chung”.

- Cho anh một miếng trầu vàng
Mai sau anh trả cho nàng đôi mâm.
- Yêu nhau chẳng lấy được nhau
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già.

    Miếng trầu không đắt đỏ gì “ba đồng một mớ trầu cay” nhưng “miếng trầu nên dâu nhà người”.     Ngày nay để răng trắng nhiều người không biết ăn trầu nữa, nhất là ở thành phố, nhưng theo tục lệ nhà ai có con gái gả chồng, sau khi ăn hỏi xong cũng đem cau trầu cau biếu hàng xóm và bà con nội ngoại. Vì miếng trầu là tục lệ, là tình cảm nên ăn được hay không cũng chẳng ai chối từ

    Thời xưa, ăn trầu còn sợ bị bỏ “bùa mê”, “bùa yêu” nên người ta có thói quen:

- Ăn trầu thì mở trầu ra
Một là thuốc độc hai là mặn vôi.

    Các cụ càng già  càng nghiện trầu, nhưng không còn răng nên “đi đâu chỉ những cối cùng chày” (Nguyễn Khuyến). Cối chày giã trầu làm bằng đồng, chỉ bỏ vừa miếng cau, miếng trầu, miếng vỏ nhưng trạm trổ rất công phu, ngày nay không còn thấy có trên thị trường nên các cụ quá phải nhở con cháu nhá hộ.     Vì trầu cau là “đầu trò tiếp khách” lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến dùng trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng… Nên têm trầu cũng đòi hỏi phải có mỹ thuật, nhất là lễ cưới có trầu têm cánh phượng có cau vỏ trổ hoa, “cau già dao sắc” thì ngon. Bày trầu trên đĩa, hạt cau phải sóng hàng, trầu vào giữa, đĩa trầu bày 5 miếng hoặc 10 miếng, khi đưa mời khách phải bưng hai tay. Tế gia tiên thì trầu têm, còn tế lễ thiên thần thì phải 3 là trầu phết một tí vôi trên ngọn lá và 3 quả cau để nguyên .

38. Xuất xứ của tục nhuộm răng và cách nhuộm răng

Tục nhuộm răng là tục cổ xưa của dân tộc Việt, có từ thời các vua Hùng với tục ăn trầu. Sứ thần của nước Văn Lang (giao chỉ) trả lời vua nhà Chu (Trung Quốc) vè tục ăn trầu “Chúng tôi có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen…”.

Khiếu thẩm mỹ của con người cũng tuỳ thuộc theo đặc điểm dân tộc và tuỳ thuộc theo thời đại mà thay đổi. Đối với các dân tộc ở châu Phi hay ấn Độ thì da càng đen càng đẹp. Nước ta ngày nay, chẳng ai nhuộm răng đen nữa, nhưng ngày xưa “bõ công trang điểm má hồng răng đen”. Đến như Phan Kế Bính là một nhà trí thức tiến bộ đầu thế kỷ, chủ trương cải tạo phong tục còn có nhận xét: “Đàn ông răng trắng thì chẳng sao, chớ đàn bà nhà tử tế bây giờ mà răng trắng thì coi khí ngộ một đôi chút. Nhưng lâu dần cũng phải quen mắt, có lẽ quen mắt rồi thì trắng lại đẹp hơn đen nhiều”.

Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.

Tục nhuộm răng đã lỗi thời, nhưng xin giới thiệu cách nhuộm răng cổ truyền của dân tộc ta, để các bạn trẻ được biết: (có thể vận dụng trong ngành mỹ nghệ, kẻ vẽ, nhuộm các chế phẩm bằng xương bằng ngà voi và nhựa).

Trước hết dùng các cánh kiến tán nhỏ, vắt nước chanh để kín 7 ngày, chờ tối đi ngủ phết thuốc ấy vào hai mảnh lá dừa hoặc mo cau rồi ấp vào hai hàm răng. Trong khi nhuộm răng thì phải kiêng nhai. Nhuộm như thế 5, 7 ngày cho răng đỏ già ra màu cánh gián thi bôi thuốc răng đen. Thuốc răng đen làm bằng phen đen trộn với cánh kiến, nhuộm 1, 2 miếng là đen kịt lại, đoạn lấy cái sọ dừa để con dao mà đốt cho chảy nhựa ra, lấy nhựa ấy phết vào răng cho không phải ra được nữa.

(Trích Phong tục VN của Phan Kế Bính, tr 351).

39. Tại sao gọi là tóc thề?

Các cô gái cô mái tóc thề trông thêm duyên dáng.
Tóc thề vốn là một vài sợi tóc ngắn phất phơ hai bên trán và vành tai. Có những bạn trai nghe nói các cô gái có mái tóc thề, tưởng là các cô đã có người yêu, nhưng thực tế nào các cô đã thề thốt cùng ai?

Nguyên xưa, các đôi trai gái yêu nhau hoặc có những đôi đã nên vợ nên chồng, đang mặn nồng đằm thắm bỗng vì một lý do gì đó làm cho tình duyên dang dở, đôi lứa xa nhau. Họ quyết một lòng, dẫu cho sông cạn đá mòn, năm tháng chờ đợi vẫn một lòng thuỷ chung. Trước khi lưu luyến chia tay, họ cắt trao cho nhau một mớ tóc để ầm tin và luôn giữ trong mình như kỷ vật. Mớ tóc đó gọi là tóc thề. Chỗ tóc bị cắt đó dần mọc lại và dài dần, mái tóc mới mọc đó gọi là tóc thề. Trong chuyện Kiều có câu:

Tóc thề đã chấm ngang vai
Nào lời non nước, nào lời sắc son.

Có nghĩa là dăm ba năm sau, chỗ tóc bị cắt cụt đã mọc dài chấm ngang vai rồi vẫn chưa thấy bóng dáng người yêu. Nên nhớ, thời xưa con trai cũng để tóc dài, cũng búi tóc, và vì vậy cũng có tóc thề.

40. Mầu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc

ở mỗi dân tộc việc vận dụng mầu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phươgn Tây, mầu đen là mầu tang tóc, còn ở Việt Nam và các nước phương Đông thì phổ biến màu tang là mầu trắng.

Mầu sắc còn mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp xã hội khác nhau: Thí dụ mầu vàng là của vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng. Mầu tím là sắc phục của các quan đại thần. Mầu điều, mầu đỏ dành riêng để tế thần và làm sắc phục cho các cụ thượng thọ. Mầu nâu sòng là của cửa Thiền dành cho những kẻ quy y Phật tổ, cũng như mầu đen là sắc phục của linh mục đạo Ky-Tô. Mầu xanh là của những người còn theo đòi Cửa Khổng sân Trình, của học trò chưa đậu đạt:

Trong bài thơ La-sơn phu-tử Nguyễn Thiếp gửi Tiến sĩ Nguyễn Khản có câu:

Quân kim bào hốt trung triều sĩ,
Cố ngã lâm tuyền khâm thượng thanh….

(Có nghĩa là: Nay ngài đã là khanh tướng trong triều, mà còn nhớ đến bạn học ngày xưa áo vẫn xanh). “áo vẫn xanh” tức là chưa hiển đạt, vẫn còn là bộ quần áo của người hàn sĩ. Mầu đào tức mầu hoa đào là của các nàng ca sĩ, cho nên mới có danh từ “Hát ả đào”.

Mầu đen, mầu nâu là trang phục rẻ tiền nhất của quần chúng nông dân. Mầu xanh nhập nội từ đất nước Trung hoa sau giải phóng gọi là xanh công nhân.

ở Việt Nam, từ xưa tới nay, mầu đỏ, màu vàng, màu hồng, dùng trong trướng đối chỉ dành để chúc tụng, khao lão, mừng rỡ, còn trong lễ tang chỉ có thể dùng mầu trắng, mầu xanh, mầu đen, mầu tím…. không hiểu vì sao, gần đây nhan nhản ở các cửa hàng, trướng điếu (lễ tang) cùng dùng mầu đỏ, mầu vàng rực rỡ, phải chăng các cụ già chết là đáng mừng, không cần phải an ủi, lưu luyến, nên chẳng cần dùng mầu đen, trắng, xanh, tím như ngày xưa. Vì thế mới xẩy ra câu chuyện oái oăm: Có người đi mừng ông ban 70 tuổi lại mua một bức trướng điếu mầu đỏ thêu 4 chữ vàng “Tiên cảnh nhàn du”, có khác gì chúc cho bạn mình mau chết để chóng được lên dạo chơi trên cảnh Bồng Lai. Nguyên “Tiên cảnh nhàn du”, (Nghĩa là thanh nhàm dạo chơi trên cảnh tiên) là để an ủi người mới mất từ nay hết nợ trần gian lên hưởng cảnh tiên.

41. Vì sao có tục bán mở hàng ?
bán mở hàng thế nào cho đắt khách ?

Trong phong tục ngày Tết, chúng tôi đã trình bày: đầu năm ai cũng muốn vận hội hanh thông, làm ăn suôi sẻ, làm quan có ngày khai ấn, kẻ sĩ có ngày khai bút, nhà nông có ngày khai canh, làm thợ có ngày khai công, người làm nghề buôn bán có ngày mở hàng. Theo tâm lý chung mọi việc khởi đầu đều khó khăn, mà “Đầu đi thì đuôi lọt!”. Riêng trong nghề buôn bán lại càng bấp bênh, có ngày mua may bán đắt, có ngày ngồi suốt buổi chẳng ai ngó tới, có tháng lời lãi nhiều, lợi lộc lớn, có tháng thua lỗ mất cả chì lẫn chài, vì vậy không những chọn ngày mở hàng đầu năm, mà cả đầu tháng, đầu tuần, từng ngày còn phải để ý đến chuyện mở hàng: mở hàng vào lúc nào ? Bán cho ai “Nhẹ vía” để cả ngày bán đắt hàng?

Thông thường muốn được đông khách đến mua thì thái độ người bán hàng phải niềm nở, vồn vã, ân cần, bán nới giá hơn bình thường để cầu được đông khách và giữ được chữ Tín đứng hàng đầu. Song có người lại tưởng nhầm bán mở hàng phải bán cho đắt, người mua mặc cả chê đắt không mua bỏ đi, rốt cuộc ngồi lì suốt buổi không ai hỏi đến, thậm chí còn có  thái độ và ma thuật bỉ ổi cho là tại người mở hàng nặng vía, chửi rủa ngầm và “Đốt vía” người mở hàng. Người bán hàng như vậy không biết rằng: chính mình là người nặng vía nhất.

Ngày trước người ta muốn đi chợ sớm để được mau mở hàng có giá rẻ hơn chút ít, nhưng ngày nay nhiều người ngại mở hàng vì sợ vướng phải hạng người không biết mình bán hàng nặng vía lại đòi “Đốt vía” người mua mở hàng.

Đến đây ta có thể kết luận được: Bán mở hàng nên bán đắt hơn hay rẻ hơn giá bình thường ?

Chuyện vui:

“Mở hàng nhẹ vía ” hay “Nợ như Chúa Chổm”

“Nợ như Chúa Chổm”. Đó là thành ngữ phổ biến để chỉ người lắm nợ. Nhưng tại sao Chúa Chổm lại lắm nợ như vậy ? Truyền thuyết kể rằng: “Chổm” là hàng cùng dân ở miền Thanh Hoá, chẳng có gia tài điền sản hay nghề ngổng gì, quanh năm chỉ có đánh dậm, mò cua, bắt ốc nuôi thân. “Chổm” tên thật là gì, quê quán ở đâu, bà con họ hàng thân thích có những ai ? Chẳng ai để ý đến. Một con người “Tứ như Chúa Chổm” được. Nguyên do: có mấy lần sáng sớm, Chổm vào một quán nhỏ ăn lót dạ, tự nhiên những hôm dó chủ quán bán rất đắt hàng. Vì vậy, một đồn mười, mười đồn trăm, các chủ quán ai gặp Chổm, cũng có nài Chổm vào ăn quà lấy may. Ai được Chổm hôm nào chiếu cố vào ăn thì hôm ấy đều bán được đắt hàng. Nhưng Chổm làm gì có nhiều tiền để trả, người ta vui lòng mời Chổm ăn, bao giờ có tiền trả cũng được, mà không có cũng thôi, do đó trong khắp vùng không ai mắc nợ nhiều bằng Chổm.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi của vua Lê Cung Hoàng, dựng nên nhà Mạc. Đến nay 1532 Nguyễn Kim khởi nghĩa phò Lê chống Mạc, đi tìm hậu duệ tôn của vua Lê, tìm được Chổm, mặc dầu khố rách áo ôm, nhưng có khí tướng đế vương (người ta còn đồn đại rằng: Chổm đi đâu cũng có đám mây che trên đầu, trời đang nắng gắt cũng trở nên dâm mát…) Chổm được phò lên ngôi vua mở đầu thời Lê Trung Hưng đóng đô ở Thanh Hoá (tức Tây đô) để chống với nhà Mạc ở Hà Nội (tức Đông đô).

Sau khi lên làm vua, không có điều kiện gần gũi quần chúng như trước, và cũng không nhớ nợ ai bao nhiêu mà trang trải nợ nần nữa, Chúa Chổm (thực ra là Vua Chổm) đành phải hạ lệnh đúc thật nhiều tiền, rồi Chổm đi đến đâu rải tiền ra đến đấy, cho công chúng ai nhanh tay, mạnh bước thì nhặt lấy. Vì thế nên mới có thành ngữ “Nợ như Chúa Chổm”.


  Bình luận của bạn
(*) Họ tên:  
(*) Email:  
(*) Tiêu đề:  
(*) Nội dung:  
Mã: 
ghntvw

Nội dung các bình luận
 

Các tin khác
  + Tục thờ Thành hoàng (26/01/2012)
  + Chữ hiếu và phong tục thờ cúng của người Việt Nam (14/06/2011)
  + Phong tục cúng giỗ (11/06/2011)
  + Dòng họ - nguồn mạch truyền thống (10/06/2011)
  + Phong tục tập quán Việt Nam qua ca dao và tục ngữ (18/04/2011)
  + Lễ dâng sao giải hạn trong tâm linh người Việt (01/03/2011)
  + Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân (03/02/2011)
  + Vinh Quy Bái Tổ - Truyền Thống Vinh Quy Bái Tổ (07/01/2011)
  + Một số suy nghĩ về sỡ hữu đất đai và tôn giáo ở Việt Nam xưa và nay (29/07/2009)
  + 112 điều nên biết về phong tục Việt Nam (phần 4): Đạo hiếu (02/03/2009)
  + 112 điều nên biết về phong tục Việt Nam (phần 2): Sinh dưỡng (02/03/2009)
  + 112 điều nên biết về phong tục Việt Nam: Mục I: Cưới hỏi (08/11/2008)
  + Lời chúc rượu trong tiệc lễ (01/11/2008)
  + Lễ tục cưới hỏi xưa và nay! (13/10/2008)
TIN MỚI NHẤT
Cây đa thành nhà Bầu Cây đa thành nhà Bầu
Mẹ và con mong bán được nhà để cứu mạng cha Mẹ và con mong bán được nhà để cứu mạng cha
Con trai tìm bố Vũ Đình Bút Con trai tìm bố Vũ Đình Bút
Đạo diễn Hollywood và bức thư gửi Đại tướng Đạo diễn Hollywood và bức thư gửi Đại tướng
Lễ đúc Đại hồng chung chùa Diên Phúc làng Mộ Trạch Lễ đúc Đại hồng chung chùa Diên Phúc làng Mộ Trạch
QUẢNG CÁO

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HOVUVOVIETNAM.COM Facebook: www.facebook.com/groups/hovuvovietnam/  

Địa chỉ: số 46, ngõ 86 - đường Ngọc Thụy - quận Long Biên - Hà Nội Email: vuxuankien@hovuvovietnam.com 

Trưởng ban biên tập: Vũ Xuân Kiên Hotline: 09.345.17.666 / 0983.665.716 

Bản quyền thuộc về  "hovuvovietnam.com " - ©2008-2012. Ghi rõ nguồn:  "hovuvovietnam.com " khi phát hành lại thông tin từ website này. Tài trợ chính: TAYBAC.,JSC