Họ Vũ đi từ Bắc vào Trung phải mấy trăm năm, rồi lại đi tiếp qua Đèo Ngang và Sông Gianh cũng vài trăm năm nữa. Hình thành các chi tộc Võ ở Đàng Trong thời gian 1407 – 1700. Sau đó đi vào Đồng Nai, Gia Định trong hơn 300 năm (1700 – 2008).
I. Bối cảnh lịch sử của thời Lý – Trần:
Nước Đại Việt trước đời Vua Lý Thánh Tông, cuối thế kỷ XI biên thùy phía Nam mới chỉ có đến đỉnh núi Hoành Sơn (Đèo Ngang) hay bờ Bắc sông Gianh thôi? Trước đó, vào thời Lý Nam Đế, thế kỷ VI và thời Tùy Đường đô hộ Giao Châu, biên giới chỉ ở Nam sông Lam? Sau đó, quân dân ta lấn dần từ năm 545 đến 980 thì chiếm đến Hoàng Sơn.
Năm 1069 (Kỷ Dậu), nước Chiêm Thành sang nước Đại Việt quấy rối đánh phá nhiều lần giống như thời Vua trước Lý Thánh Tông. Quân ta đã đánh tan quân Chiêm năm 1044 (Giáp Thân) bắt được nhiều tù binh và chiến lợi phẩm. Giết được Vua Chiêm là Xạ Đẩu. Hai mươi lăm năm sau, đời Vua Lý Thánh Tông, thấy chúng lại cướp phá, vua Thánh Tông lại thân chinh đem binh đi đánh, bắt được Vua Chiêm là Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng đất 3 châu: Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh (Bắc Quảng Trị ngày nay) để xin tha mạng sống. Từ đó (1069) trên danh nghĩa 3 châu đó là của nước ta. Vua cho các quan quân tiến vào đồn trú giữ đất mới từ Hoành Sơn đến phía Bắc sông cửa Việt (Gio Linh, Vĩnh Linh). Sau đó, triều đình cho di dân nghèo vào khai hoang lập ấp, mở ruộng vườn ở vùng dọc ven biển. Sống chung với quân đồn trú nhà Lý.
Sự di dân này ban đầu không nhiều người Việt. Chỉ vài trăm gia đình nghèo quê ở Xứ Nghệ, Xứ Thanh thôi? Có lẽ đấy là việc di dân đầu tiên của cuộc Nam tiến chính thức từ 1070 – 1127 (hết đời Vua Lý Nhân Tông). Nhưng trong vài chục năm đó (57 năm), vua Lý sai tướng giỏi là Thái Úy Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành vào năm 1076. Vì chúng đòi đất cứ dâng Vua ta và còn âm mưu với Chân Lạp (theo lệnh ngầm của Quách Quì, Vương An Thạch nhà Tống xúi bẩy) phá rối biên cương phía Nam nước ta. Rồi lại đánh Chiêm lần nữa năm Giáp Thân (1104) do Lý Thường Kiệt chỉ huy thắng lợi và lấy lại đất 3 Châu đó. Nhưng cư dân Việt đã chạy ra xứ Nghệ?
Như thế sự di dân Nam tiến không thể nhiều được? Phần lớn là các quan quân nhà Lý đã trấn thủ lưu đồn giữ đất biên giới, khai khẩn đồn điền ở ven sông và gần biển Đông. Và quân ta sống lẫn với người Chiêm ở đất mới, đã lấy vợ người Chiêm ở 3 Châu trong hơn 230 năm (từ 1070 – 1307). Rồi sinh ra lớp con cháu tóc hơi quăn, da hơi ngăm, giọng nói pha ngôn ngữ Chiêm và Tiếng Việt Cổ: Mô, Tê, Ni, Nớ, Răng, Rứa … đến nay còn đa số sống ở Nam Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị … về sau lan vào Thuận Hóa. Và thực tế trong hơn hai thế kỷ (từ Lý đến giữa đời Trần), Vua và quan quân nước Chiêm đã nhiều lần không cho biên thùy phía Nam Đại Việt được yên ổn. Chúng đánh phá luôn luôn, hễ Vua quan chúng mạnh, thấy nước ta rối ren, suy yếu, lại đem quân sang nước ta đòi đất, đánh phá. Vua nước ta lại cho tướng sĩ đi đánh. Và sự di dân vào 3 Châu đó (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị) vẫn không ồ ạt. Vì mất an ninh nên không thể an cư lạc nghiệp, khó có thể lập ấp sống lâu bền ở vùng đất mới? Chúng tôi cho rằng: cuộc di dân qui mối bắt đầu vào Nam Đèo Ngang và toàn vùng Bố Chính cũ (Quảng Bình nay) có tính qui mô và chiến lược “Tằm ăn lá” và “vết dầu loang” của các triều đình Trần, Hồ, Lê, Nguyễn đã rất gian nan và hào hùng anh dũng.
Đầu tiên, được đất 1 cách hòa hiếu là năm 1305, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã vãng du qua nước Chiêm Thành, được Vua Chiêm đón rước rất trọng hậu coi như Cha và hứa không đánh phá biên giới và đòi đất nữa. Thượng Hoàng hứa gả con gái là Huyền Trân Công Chúa cho Chế Mãn (Vua Chiêm). Nên năm Bính Ngọ (1306), Chế Mãn sai bầy tôi là bọn Chế Bồ Đài mang tờ biểu, vàng, bạc, hương liệu quý lạ và các sản vật đáng giá, cùng dâng đất 2 châu Ô, Rí (quận Urik của Chiêm Quốc) làm sính lễ. Mùa hạ, tháng 6 năm đó, Vua Anh Tông thừa lệnh Thượng hoàng Nhân Tông gả em gái cho Vua Chiêm. Sai các quan văn võ hộ tống đưa dâu về nước Chiêm. Có quan Đoàn Nhữ Hài là Hành Khiển Đô Ngự Sử, thay vua Trần tiễn công chúa về nhà chồng đến biên thùy, quay về. Năm sau, Đinh Mùi (1307), Vua Anh Tông cử quan Hành Khiển Đoàn Nhữ Hài đem 1 đoàn quan quân vào tiếp quản đất nơi được Chế Mãn dâng vua Trần làm vật dẫn cưới. Đó là Mùa Xuân, tháng Giêng, ông Đoàn Nhữ Hài và phái đoàn và 2 Châu ô, Rí đổi trên là Thuận Châu (nam Quảng Trị, từ Đông Hà và sông Cửa Việt trở vào đến huyện Phong Điền) và Hóa Châu (là Thừa Thiên Huế, từ Nam Quảng Điền đến Hải Vân Sơn). Từ đó, biên cương ta trải xuống núi Hải Vân, dài thêm vài trăm dặm.
Bắt đầu, thời Trần Anh Tông, từ 1307 trở đi đến lúc Chế Bồng Nga hùng mạnh khoảng 1370. Vì các quan ta đa sự, xúi giục Vua đem quân sang Chiêm Thành viếng Chế Mãn vào tháng 6/1308. Rồi trở mặt, cướp Công Chúa Huyền Trân là ái phi của Vua Chiêm đem về. Vì thế, Vua Chiêm kế vị là Chế Chí và quan quân Chiêm đem đại binh tràn đánh vùng biên ải rất mãnh liệt. Quan quân Đại Việt đánh đuổi rất vất vã, giàng đất đai quá gian nan, tốn xương máu sinh linh 2 bên khá nhiều! Tính tổng cộng trong 80 năm (1309 – 1389) quân Chiêm phá rối vùng Châu Hóa, Châu Thuận, phủ Lâm Bình (tiền thân của Tân Bình, sau là Quảng Bình) và Nghệ An (Lúc đó có cả Hà Tỉnh nay), Thanh Hóa; Thậm chí, đánh chiếm, phá hủy tan tành cung điện nhà Trần ở Thăng Long 2, 3 lần. Vua quan Nhà Trần bỏ chạy, và năm 1377, Vua Trần Duệ Tông còn thất trận và chết thảm ở thành Chà Bàn (tức Đồ Bàn, gần Qui Nhơn nay và đầm Thi Nại). Quân dân ta thua thiệt phải bỏ về Quảng Bình, Nghệ An để phòng thủ.
Như thế, rõ ràng sau khi vua Trần Anh Tông lấy được 2 Châu Ô, Rí (Thuận Hóa) (1307 – 1314), đã có 1 số người Việt và quan quân đã di dân vào đất Bố Chính (Lâm Bình) và Địa Lý, Ma Linh (Quảng Trị nay) sống chung với người bản địa Chiêm và có cả bộ tộc Pa-Cô, Vân Kiều ở Đông Trường Sơn lúc đó. Nhưng cũng không đông quá vài ba ngàn quân dân Đại Việt vào khai hoang từ thời Lý đến Trần. Vì an ninh bất ổn do quân dân Chiêm luôn quấy phá, xâm lược. Tất nhiên, chúng phá phách các làng Việt, đốt nhà, cướp của, giết người thường xuyên. Sự định cư ở Đất Mới (từ Bố Chính xuống Thuận Hóa Châu), chẳng yên ổn bao năm. Riêng cá nhân hay gia tộc Vũ đến Bố Chính, Thuận Hóa chưa có chứng cớ?
Trong số người đi tiên phong ở rãi rác từ Sông Gianh vào đến Hải Vân. Ban đầu có các dòng họ: TRẦN, NGUYỄN, LÊ, PHẠM, ĐINH, LƯƠNG, HOÀNG, ĐẶNG, PHAN, BÙI, TRƯƠNG, ĐOÀN, PHÙNG, ĐỖ, HỒ … là có mặt sớm nhất và phổ thông hơn cả? Còn họ Vũ lúc đó chưa thấy sử sách, gia phả cũ nào ghi nhận cả! Nếu có là vô danh và không chứng tích để lại. Chúng tôi không dám phỏng đoán và viết ra.
II. Họ Vũ – Võ đã có mặt ở phía Nam Đèo Ngang từ thời nào?
Theo ý riêng của tôi dựa vào Quốc Sử và Gia Phả. Cho đến thời Nhà Lý (1010 – 1225) chắc hẳn họ Vũ gốc ở thôn Khả Mộ, huyện Đường An, đất Hồng Châu. Chỉ mới lan tỏa về phía Nam, có lẽ mới trú ngụ ở Thanh Hóa (tức Châu Ái)? Chứ chưa thể nào có người họ Vũ vào sống lâu dài (định cư) ở đất Hoan Diễn (tức xứ Nghệ An)? Ngay ở xứ Thanh, họ Vũ cũng không quá chục người 2 bên bờ sông Mã và các huyện gần biển và Trung du? Bấy giờ còn rừng cây rậm rạp, chưa khai hoang nhiều như đời Trần (1226 – 1400). Các danh nhân họ Vũ đời Lý mới có ở Bắc Bộ.
Quốc sử (Đại Việt sử lược, Đ.V Sử ký toàn thư) chỉ nhắc đến 6, 7 nhân vật họ Vũ thôi. Như Thượng tướng Vũ Ba Tư (sống đời Lý Thái Tông 1028 – 1054); Tướng chỉ huy sứ Vũ Nhị (năm 1053 cứu viện Vùng Trí Cao đánh Tống Địch Thanh). Vũ Tán Đường (chức Tham Tri Chính Sự, ngang Thứ Trưởng nội vụ ngày nay). Đời Lý Cao Tông (1176 – 1210). Còn Vũ Cao, Vũ Lợi, Vũ Hốt, Vũ Mâu (là Tổ 5 đời bà Vũ Thị Tất Giới ở ấp Khả Mộ) đều là những người có chức vụ sống dưới triều Lý. Có lẽ, lúc này họ Vũ ở từ Hồng Châu xuống đến Thanh Hóa chưa đông đúc như đời Lê.
Đến thời Trần, sử có nhắc đến các nhân vật Vũ Vị (phủ) đỗ Thông Tam Giáo khoa thi năm 1247. Rồi anh em Thái Học sinh Vũ Nghêu Tá, Vũ Nông (Hán Bi) là con ông Hàm Tăng Thống Vũ Nạp (phả họ Vũ ở Mộ Trạch). Hai ông này làm quan đời Vua Trần Minh Tông (1314 – 1329) và Hiến Tông (1329 – 1341) chức vụ rất lớn. ngoài ra còn thấy có Tuyên Uy Tướng – Quân Vũ Tư Hoành bị chết trận đánh quân giặc Ngưu Hống (ở cao nguyên và núi đá sông Đà, có lẽ là 1 bộ tộc Thái hay Dao?) khoảng năm Kỷ Tỵ (1329) {ĐVSK. Tiền Biên, Ngô Thì Sĩ, bản dịch, trang 429}.
Thời nhà Trần (1226 – 1400) chắc hẳn, họ Vũ ở Sơn Nam, Hải Dương đã có người đi vào sống ở xứ Nghệ, xứ Bố Chính, chừng vài người và lập nghiệp ở đó rồi? Ngoài ra còn thấy có một số nhỏ người họ Vũ gốc xưa ở Đường An Huyện, theo công cụ hoặc đi lính thời nhà Trần chống quân Nguyên Mông (1255 – 1288) phải vào đóng quân hay phục vụ ở đất Hoan, Diễn, Hà Hoa (tiền thân Hà Tĩnh thời Nguyễn). Hoặc đi theo quan hành khiển họ Đoàn cũng là đồng hương ở Hồng Châu, vào kinh lược 2 châu Ô Rí năm Đinh Mùi (1307)? Cùng với các người họ (Phạm, Đoàn, Trần, Lê, Nguyễn … Ở Đường An, ở Tân Minh (Tiêng Lãng), Tứ Kỳ, Trường Tân (Gia Lộc), Chí Linh, Nghi Dương, An Dương, Phí Gia (Kim Thành), Giáp Sơn (Kinh Môn), Thủy Đường (Thủy Nguyên) và xứ Sơn Nam, cùng Thanh Hoa Ngoại Trấn (nay là Ninh Bình) đi vào Thanh Hóa, Nghệ An làm nhiệm vụ rồi lở lại đó?
Chúng tôi cho rằng: Cuối đời Trần Hồ (1390 – 1407), người Việt nói chung đã đi vào sống ở Hóa Châu, gần núi Hải Vân. Trong 18 dòng họ phổ thông nhất của “Trăm họ” (Bách Tính), Đại Việt lúc ấy. Có người họ Vũ thâm nhập vào phủ Thăng Hoa tức đất Đại Chiêm sống ở đó từ trước 1390? Bấy giờ là còn của nước Chiêm Thành. Đó là ông Vũ Uy (1390 – 1424), bình Ngô khai quốc công thần, lập nghiệp ở xã Đa Cảng thuộc huyện Nông Cống khoảng từ 1415, 1416? Trong Gia phả họ tướng Vũ Uy, đã ghi rõ: “Ông là người Chiêm Thành, ra phò 2 Vua hậu Trần, chống nhà Hồ và quân giặc Minh (từ 1405 – 1424). Sau ông ra Thanh Hóa theo Bình Định Vương Lê Lợi ở Lam Sơn, đánh giặc nhiều công trạng. Chẳng may, năm 1424, tướng Vũ Uy mới 35 tuổi, bị tử trận lúc đánh giặc Ai Lao?
Từ thời đánh đuổi xong giặc Minh ra khỏi bờ cõi, thì biên cương phía Nam vẫn còn bị quân Chiêm đánh phá nhiều phen. Sau cuộc di dân và đánh chiếm 2 Châu Đại Chiêm, Cổ Lũy của quân Nhà Hồ (1400 – 1407) vào những năm 1401 và 1402 (Nhâm Ngọ). Mùa thu tháng 7/ năm này, Hồ Hán Thương (niên hiệu Thiệu Thành) đã sai Đô tướng Đỗ Nãm và 2 quan to trong triều là Nguyễn Vị và Nguyễn Băng Cử đem 1 trăm ngàn quân Việt vào đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm lúc đó là Ba Đích Lại thấy bị thua chết tướng tiên phong Chế Tra Nan, có ý sợ, nên sai người cậu là Bố Điền đem dâng vua Hán Thương 2 con voi lớn (1 trắng, 1 đen). Bố Điền ra Tây Đô (Thanh Hóa) xin Thượng Hoàng Quí Ly bãi binh và xin dâng đất Chiêm Động hay còn gọi là Đại Chiêm (nay là toàn bộ Quảng Nam Đà Nẵng). Quí Ly bắt ép phải thay đổi tờ biểu khác và dâng nộp luôn cả đất Cổ Lũy (nay là Quảng Ngãi). Vua Hồ Hán Thương đã nhận 2 Châu đó và cho đổi thành 4 châu có tên là: THĂNG, HOA, TƯ, NGHĨA. Rồi đặt An Phủ Sứ và phó sứ Lộ Thăng Hoa để cai trị. Vua Nhà Hồ cho tổ chức di dân qui mô vào khai phá, lập ấp, lập điền, khai canh khai cư từ năm 1403. Nhưng chẳng may do thiếu điều nghiên, nên 1 số thuyền mành, ghe bàu đưa dân Việt từ Sơn Nam, Thanh Nghệ vào 4 châu (tiền thân của Nam, Ngãi). Đã bị bão tố, sóng dữ làm chìm đắm, chết nhiều người di dân (Quốc sử chép rõ việc này). Nên việc di dân tạm bỏ. Nhưng đã có vài ngàn quan quân Nhà Hồ phải trấn thủ lâu ngày ở 4 Châu đó. Sau nữa, quân giặc Minh qua đánh bại nhà Hồ và chiếm nước ta (1407 – 1427). Đám quan quân Việt viễn chinh không thể quay về Bắc Đèo Ngang nữa. Đã phải ở lại, ít nhất có vài ngàn người phải sống và chấp nhận quê hương mới ở vùng Nam sông Trà Khúc, sau là huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi và trở thành thủy Tổ họ Đỗ của Nam, Ngãi về sau. Nay còn gia phả, như ông Đỗ Đình Truật cho biết thế).
Trong số quân Việt ở lại xứ Quảng sau năm 1407, tất nhiên có rất nhiều ông mang các họ: NGUYỄN, TRẦN, LÊ, PHẠM, BÙI, ĐỖ … và phải có vài người họ Vũ nữa? Trong các chuyến du khảo miền Nam Trung Bộ, phía dưới Hải Vân Sơn, từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Nhiều cố lão nông dân kể lại: dòng tộc này, dòng tộc nọ đã có từ thời Hồ Quí Ly, Hán Thương đưa vào cách nay 600 năm rồi? N |